Friday, April 8, 2011

HÌNH ẢNH CON NGƯỜI TẠI THẾ GIAN

Hay suy nghiệm về con người như một toàn thể


Kiến giải về Nhân Sinh từ nguyên lý âm dương

Nguyên lý âm dương cho rằng mỗi một hiện tượng hay sự vật hiện hữu trong vũ trụ đều là sự kết hợp của hai cơ chế vận động khác biệt nhưng thống nhất với nhau. Hai cơ chế vận động đó được biểu trưng bởi khái niệm “âm” và “dương”. Mối liên hệ âm dương là mối liên hệ có nghĩa theo hàng ngang, và có tương quan theo hàng dọc.


Dương

Âm

Nam

Nữ

Mạnh

Yếu

Tốt

Xấu

Tích cực

Tiêu cực

Trong bảng trên, ta có mối liên hệ về giới có nghĩa Nam – Nữ, liên hệ về tình trạng thể lực có nghĩa Mạnh – Yếu, ….Đó là những mối quan hệ hàng ngang có nghĩa. Tuy nhiên, mối tương quan Nam thì phải có tính Tốt, Mạnh, Tích cực là mối tương quan không thể xác định rõ ràng. Nhưng nếu nói Dương là nói đến Mạnh, Tốt, Tích cực và cả Nam nữa thì đó hoàn toàn đúng.

Điều này có nghĩa rằng Dương là một phạm trù có tính phổ quát bao hàm những thành phần có tính chất “dương” trong mối quan hệ có nghĩa với Âm, những thành phần có tính chất “âm”. Trong khi đó, các thành phần của Dương - Âm chỉ có quan hệ hàng ngang với nhau mà thôi.

Ngoài ra, Dương và Âm còn có vai trò như hai năng lực hoạt động đối nghịch nhau tạo nên sự tồn tại và phát triển của một thực thể. Ở đây, vũ trụ với tư cách là một thực thể phổ quát là sự thống nhất của hai nguyên lực Dương và Âm này. Thực thể phổ quát này có thể là vũ trụ thiên nhiên, cơ thể của con người cũng là một vũ trụ tự nhiên,... hay bất cứ một tồn tại nào có sự phát triển thì đều do sự kết hợp của Dương và Âm.

Từ ý nghĩa đó, xem xét khái niệm Nhân sinh như là một thực thể thống nhất của hai nguyên lực cơ bản: Con Người Tích Cực và Con Người Tiêu Cực. Trong đó, Con Người Tích Cực là thành phần Dương và Con Người Tiêu Cực là thành phần Âm.


Con Người Tích Cực – Dương

Con Người Tiêu Cực - Âm

Nguyên Nhân

Hóa Nhân

Ý Thức Tiến Hóa

Vô thức Tiến Hóa

Đạo lý là phương châm

Lợi ích nhất thời là phương châm

Giác ngộ đạo lý là giá trị nền tảng

Duy lý thiên kiến là giá trị nền

Con Người Tích Cực là tập hợp tuyệt đại đa số các cá thể người chấp nhận và thực hiện công cuộc tiến hóa tâm linh như là một định mệnh không thể không có nơi thế gian. Tùy vào mỗi thời đại mà định mệnh này có thể được hiểu khác nhau, được trình bày khác nhau; nhưng không thể chỉ dựa trên lý trí và kinh nghiệm thuần túy của con người. Định mệnh là sự thức tỉnh và hòa hợp giữa con người trí năng và đạo lý toàn năng. Chỉ khi có sự hòa hợp này mới tạo nên định mệnh của nhân sinh như một hình thể có thể nhận thức được. Và chủ thể nhận thức của định mệnh này chính là Con Người Tích Cực.

Con Người Tiêu Cực là một tập hợp tuyệt đại đa số cá thể con người chấp nhận và thực hiện cuộc sinh tồn của mình như một dòng chảy hạn hữu của thời gian. Họ cho đó là số phận của nhân sinh, hạn hữu tất định và không nhận ra gì hơn ngoài những gì kinh nghiệm đã có và đã mang lại cho họ.

Lằn ranh mong manh duy nhất giữa hai hình ảnh con người này là tâm thức về định mệnh. Sự chuyển hóa qua lại giữa hai đối tượng Con Người Tích Cực và Con Người Tiêu Cực có thể chỉ là một bước dời chân nào đó trong tâm thức, dù là vô tình hay hữu ý.

Do đó, con người là đơn vị cơ bản của nhân sinh toàn thể. Hai mặt của con người là hai động lực của sự vận động cho thực thể nhân sinh. Đó chính là con người trong mối liên hệ tất yếu với xã hội của nó, phản ánh được bộ mặt xã hội của nó, và được xã hội phản ánh nó trong đời sống của mình.



Mối quan hệ giữa Con Người và Nhân Sinh

Nhân sinh chính là con người trong hoạt động của nó. Con người lại là một lớp cắt của nhân sinh.

Ở đây, chúng ta sẽ không xem xét con người tâm lý tức là con người với khả năng ứng đối với ngoại cảnh và chính mình. Chúng ta cũng không xem xét con người như là một thực thể có căn nguyên cùng vũ trụ. Chúng ta không xem xét con người cá thể với toàn bộ đời sống cá biệt trong hoàn cảnh rộng lớn, hoàn cảnh của xã hội. Vậy nên chúng ta chỉ xét đến con người có quan niệm trên bình diện liên quan cùng xã hội, cộng đồng.

Chúng ta xem xét con người phổ quát, tức con người hữu quan, hữu cảm; con người phản ánh định mệnh hoặc chấp nhận số phận của mình. Đó là con người xã hội hay ít ra đó là con người được phản ánh bởi đặc tính xã hội mà nó tồn tại cùng. Đó là một con người phổ quát như một hình ảnh nhân sinh; con người như một năng lực đặc trưng của nhân sinh, vốn chỉ là khái niệm nói đến đời sống của con người. Nếu chẳng có con người trong mối liên hệ phổ quát này thì nhân sinh là khái niệm không có nghĩa.

...Sự sống của con người hiện tình ẩn khúc nhiều bộ mặt sinh hoạt khác nhau, chẳng đồng đều và biểu hiện ra nhiều sắc thái từ mức ôn hòa rồi phát sinh đến sự xung động, phản ứng do bản thể tự tồn chủ quan ích kỷ sai biệt trái với lẽ Đạo, rồi làm sao sự sinh tồn của xã hội lấy môi trường đạo đức khai thác cho cá nhân tiến tới hạnh phúc bảo vệ giá trị con người?1

Sự khác biệt của của từng cá thể người không làm nên giá trị con người nói chung. Do đó, con người phổ quát còn có thể hiểu là giá trị con người nói chung. Do đó, chúng ta chỉ có thể tiếp cận gương mặt của nhân sinh thông qua gương mặt đại diện cho nó, những cảm quan chung nhất của con người phổ quát.

Văn hóa, nghệ thuật, đạo đức, tôn giáo, triết lý,... là những gương mặt cụ thể được nuôi dưỡng bởi con người phổ quát. Cũng giống như việc để hiểu văn hóa Việt Nam, ta cần nghiên cứu con người Việt Nam như một thực thể phổ quát trong cái nhìn chuyên biệt về văn hóa. Nếu cụ thể hơn, ta sẽ phải nghiên cứu con người cá thể, nhưng kể cả chữ “cá thể” ở đây cũng không nói đến một cá nhân Việt Nam cụ thể nào có một cái tên xác định, tuổi xác định, vóc dáng xác định. Không có cá nhân đại diện cho nền văn hóa của một dân tộc. Nói như thế chỉ để chỉ rõ đối tượng con người mà chúng ta thực sự nói đến trong bài viết này, con người như thực thể nhân sinh.

Nhân sinh là hình ảnh con người tại thế gian

Khái niệm “con người tại thế gian” có lẽ làm rõ hơn về nhân sinh. Đó chính là cuộc sống toàn thể của mọi khác biệt về màu da, sắc tóc, ngôn ngữ,.... Không có con người đơn lẻ trong thế gian, vốn là nơi của tập hợp người và vạn hữu trong nhận thức của người. Và con người trong tính toàn thể của nó, hay thế gian là hệ quả của định luật sinh hóa2.

Sự hiện diện của nhơn sanh tại cõi thế gian này không phải là ngẫu nhiên hay vô cớ, mà nó đã nằm trong cái định luật, trong đức háo sanh của Thượng Đế3.

Con người và sự phát triển của nó để định hình thành cõi thế gian là một định luật. Các ngành khoa học đã làm động tác chia cắt cái định luật của vũ trụ theo từng mảng riêng có nghĩa để nhìn nhận những yếu tố tất yếu của nhân sinh theo cách riêng của chúng. Tuy sự phát triển đa dạng của khoa học, khiến con người phổ quát bị chia cắt thành nhiều mảnh, nhiều phần, thậm chí nhiều thực thể người theo từng cái nhìn của ngành khoa học; nhưng con người vẫn thực sự có liên quan mật thiết đến cái định luật nguyên sơ từ ban đầu. Nó được phát biểu giản đơn trong đức háo sanh của Thượng Đế. Nhân sinh là nguyên nhân của Thượng Đế.

Có thể một lúc nào đó, hoặc thực sự luôn là như thế, con người đã không nhận ra hoặc quá say mê trong ảo tưởng làm chủ cuộc sống, làm chủ cõi thế gian bằng lý trí thuần túy nên phủ nhận sợi dây kết nối nhân quả của mình với cái định luật ban đầu. Nên nhân sinh là bất định, bất toàn trên những gì mà nó đã xây nên.

Người sanh tại cõi thế như những lữ hành4 đang đi trên đường thiên lý5.

Cuộc sống của con người, xã hội do con người tạo dựng nên là một con đường dài không chổ kết thúc. Đó cũng là một luật định cho số phận của con người và nơi mà nó tạo ra. Con người sẽ không thể dừng lại trên dòng thiên lý. Bởi lẽ, với số phận là một kẻ tha phương, liệu có thể dừng chân nơi nào được chăng? Bởi lẽ, với số phận là kẻ bộ hành nơi đất khách, liệu có một chổ an trú thân bền vững hay không? Không có gì là ổn định lâu dài. Không có gì tất định không thể đổi thay đối với con người tại cõi thế, đối với nhân sinh. Con người còn bất định hơn nữa trong chuỗi thời gian vô hạn định, trong khoảng không gian vô phương hướng. Và vì thế con người sẽ đến với bất toàn hơn nữa trên suốt chặng đường dài của mình. Nhân sinh là tiến trình bất định, bất toàn, và bất ổn vì ý thức toan tính rời xa cái định luật nguyên sơ.

Suốt chuỗi luân hồi trên đường tiến hóa, những chơn linh ví như những khách lữ hành đã trải qua không biết bao nhiêu trạm dừng chân đổi bến6.

Luân hồi sẽ dẫn dắt nhân sinh lần hồi đi trên hành trình miên viễn đa chiều kích. Nó sẽ không còn là một đường thẳng tắp xa xăm, nhưng may ra vẫn còn thấy lối. Nó sẽ là con đường quanh co rối rắm qua nhiều trạm dừng chân đổi bến, để thay dạng đổi hình, thay tên đổi họ. Trên con đường đó, chơn linh sẽ phải chịu phủ che dầy đặc bởi những giả tướng, bởi sự khác biệt với chính mình. Con người, không chỉ là sự xa quê hương mà còn hơn thế nữa, là sự xa rời chính mình trên hành trình dài hơn hạn hữu thông thường của cảm quan và tri thức. Nhân sinh là một tiến trình lìa xa chính mình để đi trong vô hạn.

Đến đây, ta chỉ thấy một nhân sinh với toàn bộ kết cục bi thảm có dũng khí trong số phận do chính nó định đoạt. Hay giống như những cái vẫy đạp đưa mình ra đại dương thay vì vào bờ. Chỉ thế thôi thì chẳng ra hình ảnh nhân sinh toàn diện.

Như đã nói, nhân sinh toàn diện được tạo hình bởi những cặp lực và phản lực cơ bản: thức tỉnh và chìm đắm; ý thức và vô thức,.... Mà đại diện cho chúng chính là con người tích cực và con người tiêu cực. Nếu con người Tiêu Cực làm nên sự chìm đắm trong bất định của nhân sinh, thì Con Người Tích Cực lại làm nên sự thức tỉnh trong sứ mạng của nhân sinh.

Đạo là Thiên, là tâm, là con người, nên chi con người phải là con người đạo đức.7

Con người chỉ khi vẫn giữ mối dây liên hệ với nguồn cội thiêng liêng của mình mới thấy được sự sống tích cực mà tham gia vào nó như một chủ thể của cuộc sống đích thực. Chỉ khi con người vẫn tin và xác tín cái định luật muôn thời là sợi dây liên hệ đó để làm chuẩn mực cho mọi hành vi và suy tưởng, con người sẽ sớm nhận ra trọng trách của mình. Trọng trách là con người đạo đức đúng nghĩa với bản chất tự nhiên như nhiên của nó. Con người phải lập đức nhờ vào sự học và hành theo đạo lý muôn thời. Đó là điều hiển nhiên đã bị phế bỏ trong cuộc sống thực dụng, khoa học chủ nghĩa, thuần lý nhưng lại thiếu hẳn một cái tâm đạo. Chính đây là lúc mà Con Người Tích Cực thị hiện như một năng lượng vận động có ý hướng, khiến nhân sinh toàn thể được vận động theo một chiều hướng thượng thay vì thuận theo chiều của luân hồi và tha phương trong thế giới nhân sinh.

Con người đạo đức là hạt nhân của NHÂN BẢN, và Con Người Tích Cực chính là nguồn năng lượng của NHÂN BẢN. Chỉ khi có con người đạo đức thì nhân sinh mới có khả năng phản tư về chính mình qua chiếc gương của đạo lý. Chỉ khi có con người đạo đức, nhân sinh mới bắt đầu hành trình trở về với mình.

Bến khởi thủy đang chờ lữ khách,

Giác linh tâm rửa sạch bụi trần;

Sông Hà tắm gội pháp thân,

Mê hay tỉnh hỡi cố nhân phương nào?8



Nói tóm lại, con người là đại diện của nhân sinh. Suy nghĩ về nhân sinh, tức là suy nghĩ về con người trong sự vận động của nó. Sự vận động của con người trong cõi thế gian làm nên hình ảnh nhân sinh. Sự vận động đó nhờ vào tâm thức về định mệnh (sứ mạng) của con người trong cuộc thế. Lằn ranh tâm thức này phân nhân sinh làm hai mặt, hai đối tượng căn bản làm thành mối quan hệ về vận động. Đó là Con Người Tích Cực và Con Người Tiêu Cực. Trong đó, Con Người Tích Cực làm chức năng bảo tồn sứ mạng trong nhân sinh; đem lại một khả tính cho hành trình trở về với bản chất nguyên sơ của con người. Nhờ đó, tính bất định của nhân sinh cũng chỉ là một tạm thời. Nhờ đó tính tất yếu của con đường trở về thành ra là rõ ràng trong nhận thức của con người.


Thanh Long

3/2011

**********************************************

1Đời Đạo Triết Luận, quyển Nhứt, 1966, trang 46.

2“Định luật sinh hóa” nếu giải thích theo Dịch lý thì đó chính là sự thể hiện của tám đức Nguyên, Hanh, Lợi và Trinh của hai năng lực tiên thiên Kiền – Khôn.

3Đức Quan Âm Bồ Tát, Vĩnh Nguyên Tự, Ngọ thời mùng Ba tháng Giêng, Giáp Dần (25-01-1974)

4Lữ hành: 旅 行 lữ có nghĩa là người ở trọ, hành có nghĩa là đi. Lữ hành có nghĩa là người đi xa, kẻ ở trọ. Tương tự, lữ khách 旅 客 cũng sẽ có nghĩa là người đi làm khách nơi xứ xa, người xa xứ, kẻ ở trọ. Trong ngữ cảnh liên quan đến thân phận con người tại thế gian tôi hiểu hai khái niệm này đều chỉ đến nhân sinh là con người rời xa căn nguyên, ở trọ nơi cõi tạm. Nên lữ hành hay lữ khách đều được dịch sang tiếng Anh là the earth lodger.

5Đức An Hòa Thánh Nữ, CQ.PTGL, Tuất thời, Mười Bốn tháng Năm, Quý Sửu (14-06-1973)

6Đức Bác Nhã Thiền Sư, Minh Lý Thánh Hội, Tuất thời, mùng Bảy tháng Giêng, Quý Sửu (09-02-1973)

7Đức Lý Giáo Tông, Chí Thiện Đàn (Minh Đức Nho Giáo) Vĩnh Bình, Tý thời, Hai Mươi Bảy tháng Tám, Nhâm Tý (4-10-1972)

8Đức Lê Văn Duyệt Đại Tiên, CQPTGL, Tuất thời, Rằm tháng Ba, Giáp Dần (07-04-1974)

4877

Đây không phải là số điện thoại khẩn cấp. Đây cũng không là con số có giá trị hữu dụng để dùng được như chính những con số đang là. Đây là lý của số! Tức là mượn số để bộc bạch về cái lý đầu năm Tân Mão.

Bốn là gì? Trong bảng danh sách phân công các phái đoàn đi chúc tết các thánh sở anh em trong tôn giáo Cao Đài, có một nhóm được đánh số 4. Mà 4 là số tượng cho sự cân đối của không gian. Rằng vì trời có 4 phương mà!

Tám là chi? Tám ấy là cơ vận động của vũ trụ...Đừng cho rằng đó là suy tưởng thái quá! Bát Quái nếu không là sự cơ nguyên vận động của vũ trụ thì còn có nghĩa gì khác chăng? Do đó, nói đến số tám phải nói đến sự vận động không ngừng...Tuy nhiên, số 8 ở đây còn có nghĩa là số lượng nhân sự của phái đoàn ngoại giao số 4. Vậy có 8 người trong nhóm số 4. Suy ra lý có nghĩa là có một sự vận động trong khoảng không gian thanh bình của những ngày đầu năm Tân Mão!

Bảy tượng trưng cho lý gì? Trước hết 7 là đơn vị số lượng dùng để cân đong đo đếm. Ở đây là 7 nơi mà phái đoàn số 4 gồm 8 người đã viếng thăm và chúc Tết đầu năm. Nghĩ cho kỹ thì chẳng nên thêm vào lý gì cho rối rắm thêm cái đoạn này.

Vậy bảy nữa có lý chăng? Đương nhiên phải có chứ. Cái số 7 đầu không có là nhường cho cái 7 sau đấy thôi. Bảy trong âm Hán Việt là thất. Cái lý chổ này của số 7 không phải là số lượng, hay số đếm chi hết. Nó có nghĩa là thất. Mà thất ở đây là thánh thất chứ không phải có nghĩa là nhà như thông thường ai cũng biết. Mà thánh thất là danh từ chung để gọi các thánh sở Cao Đài. Có lẽ một vài người sẽ hỏi vậy đến thánh tịnh thì có tính không? Chắc chắn là có? Nếu có thì gọi là chi? Một vài câu hỏi cắc cớ sẽ được nêu ra như thế! Không sao, có thế mới có suy nghĩ cho tường tận. “thánh thất” như là một danh từ chung là dùng để chỉ phần lớn thánh sở, ngôi thờ tự của người Cao Đài. Còn như hai khái niệm “thánh thất”, “thánh tịnh” là 2 danh từ chung chức năng dùng để phân biệt rõ chức năng của từng ngôi thờ tự, thánh sở đó vậy! Nếu đã nói đến danh từ chung chức năng thì phải nói đến “điện thờ Phật Mẫu” và “Tòa thánh” nữa thì chắc là đủ. Tản mạn về Tiếng Việt thực hành trong Cao Đài giáo như thế là tạm đủ.

Như vậy, con số 4877 bình thường đến tầm thường kia bây giờ có một cái lý vô cùng khác thường. Sự khác thường nằm trong ý nghĩa như sau: trong những ngày đầu năm thanh bình, thanh tao và êm đềm cả có 8 nhân tố vận động liên tục trong cái không gian đằm thắm ấy để kết nối tinh thần liên giao, sự thông suốt của tình thân đến 7 thánh thất (7) Cao Đài. Đó là ý nghĩa cao cả là lý của số 4877!

Đến đó cũng chưa hết lý. Vẫn còn một cái lý ẩn tàng mà chỉ có người trong cuộc mới hiểu nổi và nhận ra mà thôi. Nghe nói những năm trước đây, các chuyến của nhóm số 4 này chỉ có phần “âm”, ý là chỉ có giới nữ tham dự mà thôi. Riêng năm nay, đã xuất hiện một điểm “dương” tức là có nam giới tham gia. Tuy là “cô dương” nhưng đã đánh dấu một sự đổi mới, mạnh mẽ, tươi sáng, thông suốt... nói chung là vạn sự phát khởi, đắc cát! Đó là lý của dương chứ không phải tại có nam mà nói thế, mong mọi người hiểu thấu cho ý này! Vậy ra năm ngoái là Canh, năm nay là Tân. Cộng hai năm là Canh Tân, nên đạo sự có nhiều khác lạ, khác biệt và có thể khác xa với mọi năm khác trước đó.

Như vậy, con số 4877 đã được hình thành và mang mặc vào nó những ý nghĩa đó vào ngày 03/02/2011, tức ngày mùng Một tháng Giêng năm Tân Mão. Theo nét văn hóa Tết của người Cao Đài, dịp đầu năm cũng là lúc dành thời gian để lau mờ bụi trần gian bám trên sợi dây liên kết tình thân đồng đạo. Năm nay, có thảy 5 phái đoàn đi chúc Tết khoảng 36 thất Cao Đài trong ngày đầu năm. Riêng tôi, được vịnh hạnh tham gia phái đoàn số 4 để làm nên “kỳ tích 4877+”. Để tiện theo dõi từng bước chân của chúng tôi, bây giờ là những khoảng khắc quý giá của “đa âm, cô dương” được ghi lại một cách vừa đủ để gợi hình ảnh đáng giá của ngày mùng Một Tết năm Tân Mão.

Căn theo địa lý mà đo xa gần, vào lúc 9 giờ sáng, chúng tôi quyết định khởi hành và đi đến Thánh tịnh Tân Minh Quang trước hết. Đảnh lễ Thầy Mẹ xong, chúng tôi được thết đãi bữa điểm tâm mang đậm chất xuân! Xong phần “thực” là tiếp phần “đạo”. Chúng tôi đến chúc Tết đại diện Ban Cai Quản của Thánh tịnh. Riêng tôi rất mong sẽ nhìn thấy những giá trị chơn chánh sớm được phục hồi như ngày xưa.

Rời Thánh tịnh Tân Minh Quang, phái đoàn chúng tôi lên Bồng Lai! À, mà phải nói là Thánh tịnh Bồng Lai, thuộc Hội Thánh Tiên Thiên thì mới hiểu chính xác. Nếu không thì có lẽ, một vài suy nghĩ sẽ cho rằng chúng tôi “lên trển” thì chưa đúng lắm! Phải thưa trước rằng những năm gần đây, Thánh tịnh Bồng Lai đã thay đổi nhiều hơn trước. Không còn um tùm cây cối, ngôi tam đài rạng rỡ hơn, hoa đã nhiều hơn cỏ, chánh môn mới xây rất đẹp. Đến nơi, vẫn hương vị trà mứt và tình thân rất thắm thiết. Mà hình như nhờ “một cái máy phát thanh không có nút tắt” nên không khí của những phút giây thân ái trở nên gần gũi và vui vẻ.

Sau khi lên đến Bồng Lai, chúng tôi trở lại đường lộ để đến một thánh tịnh khác, Thánh tịnh Ngọc Chiếu, thuộc Hội Thánh Tiên Thiên. Vẫn là những câu chuyện hỏi han đầu năm, là trà mứt, là cười nói và chúc tụng. Cái đặc biệt của thời gian ở Ngọc Chiếu là chúng tôi được đãi ăn cơm tấm trong lúc mà bụng hãy còn no nóc bởi bánh tét và món bún gì gì đó ở Tân Minh Quang. Phải công nhận năng suất mấy ngày Tết có cải thiện rõ rệt một cách không ngờ. Được mời thì chỉ biết nhận để giữ cái lễ. Mà đã giữ lễ thì phải thật lòng. Nên dường như dĩa cơm tấm nào cũng “trọn vẹn”....tới hột tấm cuối cùng!

Phải công nhận rằng các thánh tịnh của Hội Thánh Tiên Thiên bao giờ cũng có những cái tên mỹ miều. Chúc Tết xong ở Ngọc Chiếu, chúng tôi lại lên xe thẳng tiến đến Thánh tịnh Như Ý Linh Thần Đài. Lại là một cái tên đẹp! Ngôi thánh tịnh đã vương nét thời gian một cách rõ rệt. Có một cái gì đó thật trầm lắng! Dẫu xuân trần vẫn còn nhiều tươi tắn, nhưng cái văng vắng của không gian cũng làm hơi chùng lại cái nét xuân xanh. Với tôi thì đây là lần đầu tiên được đến thánh tịnh. Vẻ đơn sơ cùng với những tình cảm mộc mạc làm nên tính chất đơn giản. Nơi đây là nơi tịnh tứ thời thì chắc là tốt lắm đây!

Chào quý huynh tỷ Ban Cai Quản Thánh tịnh Như Ý Linh Thần Đài xong, chúng tôi đến Thiên Đạo Học Đường Liên Hoa Cửu Cung. Nơi đây hương xuân rất nhiều. Từ cảnh vật, vườn hoa bên ngoài đến các phái đoàn đời có, đạo có viếng thăm chúc Tết khá đông. Chờ một lúc, quý Ban Cai Quản mới tiễn xong một phái đoàn khác đến trước đó để tiếp tục đón chúng tôi. Cũng nhờ chúng tôi đảnh lễ tại Chánh Điện và bên điện thờ đức Mẹ nên thời gian chờ của chúng tôi không quá dài. Vài câu hỏi thăm thân mật, thêm vị trà, bánh, và chúc Tết đầu năm, chúng tôi lại được giữ chân bằng món bánh tét ngon thiệt ngon. Ngon đến nỗi dù trước đó vài phút, tôi có ý chẳng muốn ăn, thì chỉ sau khi nếm khoanh bánh đầu tiên tôi đã phải “hạ nhiệt tâm” xuống để làm luôn 5, 6 khoanh nữa!!!

Hành trình tiếp tục dẫn chúng tôi đến Điện Thờ Phật Mẫu Linh Xuân, của Thánh thất Long Vân. Lúc chúng tôi đến nơi là đúng giờ Ngọ, nên mọi người đang tiến hành lễ cúng Ngọ. Không có dịp vào lễ đức Mẹ, nên chúng tôi chúc Tết đạo tỷ đại diện thánh sở và tiếp tục lên đường.

Chúng tôi lại lên xe đến thăm Thánh thất Long Vân, thuộc Hội Thánh Tây Ninh. Nơi đây, chúng tôi được hiền huynh Thiện Cảnh tiếp đón rất nồng hậu. Tuy không trà, không mứt, vẫn nhiều cái vui. Vì lẽ, hiền huynh đã kể rất nhiều câu chuyện hành đạo mà bản thân huynh và bổn đạo tại thánh thất đã thực hiện. Chuyện tiếp chuyện cứ tuôn ra từng nhịp cũng làm chúng tôi phần nào cảm nhận được tinh thần vì Thầy, vì Đạo của chư đạo hữu nơi đây. Nhiệm vụ của phái đoàn số 4 đã đóng lại khi chúng tôi thăm viếng và chúc Tết quý Ban Cai Quản tại Thánh thất Long Vân.

Chuyến đi đã kết thúc vào lúc 2 giờ 30 phút tại Bửu Điện Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo trong sự trọn vẹn và ý nghĩa nhất của nó. Tất cả thành viên trong đoàn đều xuất phát cùng nhau và trở về nơi xuất phát với nhau. Không ai trong chúng tôi tự ý tách đoàn vì việc riêng. Không ai xem chuyến đi là cuộc du hí với mục đích tìm vui trong cảnh xuân. Dường như mọi người cùng sắp xếp cho một niềm vui duy nhất cho tâm đạo, cho tâm xuân và cho tình thân đồng đạo.

Một ngày đầu năm có ý nghĩa. Mong rằng ý nghĩa cao đẹp sẽ theo và luôn ở cùng với quý đạo huynh, đạo tỷ trong cả năm Tân Mão.

Viết cho ngày đầu năm Tân Mão
Độc Dương Nhân

(Bài viết đăng trên blog phải gỡ hình minh họa)

Friday, February 18, 2011

ĐI ĐẾN TĨNH LẶNG

Đêm khuya

Lâu lắm rồi,mới lại có dịp “vi vu” trên đường vào lúc trời đã vào đêm khuya tịch mịch nơi thôn quê thoáng đãng không gian. Đèn đường không có, con đường được soi tỏ cho những chiếc xe gắn máy chạy trên nó nhờ vào những chiếc đèn xe hoàn toàn khiêm tốn trong đêm đen mịch mịch. Thoảng có đoạn đường sáng rực cả góc trời nhờ vào các vườn Thanh Long được treo đèn. Có nghe nói, trái Thanh Long Bình Thuận ngon và mượt mà hơn mọi Thanh Long của xứ khác mà chưa một lần được tận thị, tận vị nhìn cảm thấy sự khác biệt đó.

Đêm khuya thật thanh vắng, yên lặng. Âm vô thanh át được cả tiếng xe gắn máy trên đường!

Chuông Trống

Giữa đêm mù tịch mịch như thể vô thanh nơi thôn quê, tiếng trống Lôi Âm, chuông Bạch Ngọc vang lên như muốn đánh thức sự mê mê tỉnh tỉnh của tâm tư, tình thức bộn bề trong cõi ta bà. Giờ Tý linh thiêng dường như đang gọi dậy mọi huyền linh của tâm thức. Mọi xì xào của tư tưởng, ồn ào của thế sự dường như cũng muốn chậm lại nhường cho không gian tiếng trống chuông hữu âm hữu lý.

Từng đợt trống chuông trỗi bừng lên trong cảnh đêm không đèn, đánh dấu thời khắc của huyền vi nơi cõi tạm. Âm hữu thanh át được những tâm tình vội vã kiếp nhân sinh!

Vi Diệu

Nhịp thời gian lần trôi nhè nhẹ,
Tiếng thăng trầm khe khẽ buông rơi,
Vào tâm thức ý và lời,
Những khuyên, những bảo làm vơi tâm trần.

Cuộc thế sự lòng người ngơ ngẩn,
Phút thiêng liêng lý ẩn truyền trao,
Có ai tin tưởng đạo mầu
Lắng tâm lãnh hội sắc màu diệu vi.

Những nghi hoặc tạm dừng chân bước,
Để thành tâm tiếp rước Thiên Ân,
Đêm khuya cũng ngắn lại dần,
Trần tâm đã được lại gần Thiên Ân.

Cầu nhân sinh giả chân phân biệt,
Đạt lý cao mãi miết đường chơn,
Giữ tâm học đạo là hơn,
Lợi danh cửa Phật làm cơn khảo trần.


Thanh Long
Mùng Một tháng Giêng, Tân Mão

Monday, February 14, 2011

BÓI PHẬN ĐẦU NĂM

Thường thì người ta đi xem bói, bốc quẻ hay xin xăm đầu năm để biết vận số trong năm và cầu xin được Thiêng liêng gia hộ, độ trì. Và cũng đã từ lâu, một bộ phận lớn người Cao Đài lại có một cách thức cũng tương tự để thấy được bản thân, bản tâm trên đường tu hành học đạo. Cái cách tương tự đó được gọi là hái lộc đầu năm, mà tạm đặt cho cái tên “bói phận đầu năm” để muốn nói về tư tưởng giao cảm của con người và Thượng giới thông qua những lời Thánh thi trong những ngày đầu năm.

Nét văn hóa đặc trưng này đã bắt nguồn từ CQ.PTGLĐĐ, theo như cái hiểu biết của riêng tôi. Riêng năm nay nhờ có đi đến nhiều nơi, tôi nhận thấy cũng có hình thức tương tự. Thế nên, đi đến đâu tôi cũng ráng xin sự hướng dẫn của Thiêng liêng. Cũng nên nói rõ sự khác nhau giữa bói phận và bói toán thông thường. Với cái được gọi là “bói phận”, thì lời dạy của các đấng Thiêng liêng là sự nhắc nhở, khuyên nhủ, dạy bảo. Mỗi lời dạy được “cất” trong một cái bao lì xì và treo lên cây mai hoặc để trong một cái chậu nhỏ. Mỗi người sẽ cầu nguyện và bốc một bao lì xì. Khi lấy ra đọc, thường thì mọi người đều cảm nhận mỗi lời dạy đều phản ánh tâm tư, thật tế cuộc sống tu hành học đạo của bản thân. Căn cứ vào sự hiểu biết về lời dạy bốc được một cách ngẫu nhiên đó mỗi người sẽ chiêm nghiệm, đối chiếu với tâm tư của mình. Cũng từ đó mà thấy được bản thân mình trong năm hành đạo mới!

Năm nay, đi chúc tết 7 thánh thất, thánh tịnh thì đã có 5 thánh sở có văn hóa hái lộc “bói phận” này. Cũng có nơi rất tỉ mỉ thêm phần xuất xứ của Thánh thi, có nơi chỉ đơn giản ghi lại lời dạy của các đấng mà thôi. Có nơi cẩn thận in trên tờ giấy cứng, có chổ in trên giấy thường.

Bây giờ là tự “giải số” của tự thân!

Lời dạy đầu tiên là của đức Vạn Hạnh Thiền Sư. Xem ra năm nay tôi chắc có duyên với đạo pháp nên mới “gặp” đức Vạn Hạnh Thiền Sư trước hết! Nhưng có lẽ sẽ có nhiều trắc trở nên lời dạy lại là bức tranh hai mặt của thành công và trở ngại.

Tướng giỏi điều hành vạn toán binh,
Muôn dân trăm họ hướng theo mình;
Người tu lấp lửng không ngăn nổi,
Lục dục, lục căn với thất tình.1


Trước hết, hai câu đầu cho thấy một hình ảnh của cái thành công bên ngoài qua cái uy danh. Đó chính là sự ảnh hưởng tha nhân, sức thu hút nhân sinh của “tướng giỏi”, người có tài trong cuộc sống. Dường như đó chỉ là một sự tương phản với “Người tu lấp lửng”, có lẽ mới đúng là trọng điểm của lời thơ. Với người tu hành học đạo thì lục dục, lục căn, thất tình mới là đối tượng cần thu nhiếp, cai quản, điều hành, chứ không phải là tha nhân, ngoại thể. Có thể cảm được ý của bài Thánh thi là muốn nói rằng người muốn tu thì không nên “lấp lửng” để rồi quên mất đi nội tâm xáo trộn bởi tình thức, vọng niệm. Muốn thành công thì phải điều quản được 19 tên lính này, mà thực ra có thể chỉ là 13 tên. Như thế cũng cho thấy một năm qua 19 tên lính này đã nổi loạn trong thân mà chưa được “thuần hóa” đúng mức. Nên lời dạy là sự nhắc nhở về tác phong và đạo hạnh! Chắc là đúng như vậy!!!

Sau khi được nhắc nhở về tác phong đạo hạnh, đặc biệt là phần điều quản tình cảm, là lời nhắc nhở về tác phong đạo hạnh, phần Tài và Đức.

Đừng lòng kiêu hãnh cậy mình tài,
Nên nhớ chữ tài cận chữ tai;
Tài ít đức nhiều còn hữu dụng,
Tài suông thiếu đức họa nay mai.2


Chưa thấy năm qua mình phát triển cái Tài ra sao mà được nhắc nhở thế này. Có thể năm sau mình sẽ phát triển cái tài này nên Ơn Trên dặn trước chăng? Nếu nói năm qua rằng tôi có tài, chỉ chắc có mọt cái tài mà nghe thôi cũng sợ, tài đi. Suốt năm Canh Dần, tôi đã đi liên tục, đi sáng, đi tối, đi nữa ngày, một ngày cả đến đi hai, ba ngày; đi nguyên tuần, và gần như tháng nào cũng có đi. Có lúc đi khuya, nhiều khi đi từ sáng sớm. Có lúc đi xe đò, một vài lần đi xe hơi, và rất nhiều khi đi xe gắn máy. Đi một mình có, hai mình có mà ba bốn mình cũng có! Đi như thế thì tự thấy mình tài, nhưng chưa hiểu lắm liệu mình có sinh lòng “kiêu hãnh” vì đi hay không?

Lời dạy quá rõ ràng để suy nghĩ thêm. Đây cũng là quan niệm của thế nhân theo đường lối trọng đức. Nếu không quá “kiêu hãnh” thì tự cảm thấy rằng mình được xác nhận là có “tài”, nhưng phải biết học tánh khiêm nhường, thái độ khiêm cung, để tâm luôn khiêm hạ thì mới được “vô cựu” vậy! Chợt nhớ có một câu danh ngôn đọc được với đại ý là người có tài thì thật tốt, nhưng khi tính ngạo mạn giảm xuống thì cái tài mới có thể ngẩng lên. Hợp lý vô cùng!

Lá “xăm” thứ ba, nghe ra rất là ….tu. Thú vị là lời dạy này giống như là sự “khuyến tặng thêm”. Chuyện là như vầy, lẽ ra mỗi bao lộc chỉ chứa một lời dạy của một đấng mà thôi. Nhưng riêng lá “xăm” của tôi lại được “tự nhiên” nhân đôi lời dạy của hai vị tối cao của toàn đạo được in cả trên 2 mặt của tờ “xăm”. Nên nhận được lá “xăm” cực tuyệt may mắn này, lòng vui hết lớn.

Sau lần được “nhắc nhở” về đạo hạnh của đức Chí Tôn, tiếp theo lần này đức Giáo Tông Vô Vi “phán” như sau:

Là môn đệ Cao Đài Thượng Đế,
Phải dặn lòng phước huệ song tu;
Ấy là công quả công phu,
Thương người mến vật vận trù nội tâm. 3


Đại ý của bài Thánh thi là xác nhận mình là đệ tử của đức Chí Tôn thì phải tâm vật bình hành thể hiện qua con đường tu phước và tu huệ bằng phương pháp công quả và công phu; cụ thể trong đời sống thường nhật là làm cho tâm được bác ái, từ bi, thân thì gần gũi tha nhân, hữu thể; từ đó rèn luyện cái tâm cho hợp với Thiên lý. Đây quả một công án không riêng cho cá nhân tôi. Song tu phước huệ là châm ngôn dành cho phần lớn tín hữu Cao Đài. Nhưng hiểu được, vận dụng được vào cuộc sống cho đúng với Thánh ý thì quả là một thách thức to lớn. Phải suy nghĩ, suy nghiệm để suy tư có thể hiểu thấu lời dạy này mới có thể thực hành trúng được. Suy nghĩ, suy nghĩ...và suy nghĩ....

Sau khi dạy và nhắc tôi về đạo hạnh, hình như vẫn chưa an tâm với tôi, đức Chí Tôn lại chờ tôi ở Điện Thờ Phật Mẫu Linh Xuân để nhắc thêm:

Đừng sợ khó, khó nên công,
Công khó may gìn chữ sắc không;
Không sắc sắc không vui đảnh hạc,
Hạc về chốn cũ dựa rừng tòng.4


Trước hết khi đọc, thấy các câu hai, ba, bốn đều là bảy chữ. Riêng câu đầu chỉ sáu chữ mà thôi. E có đánh máy thiếu nên cố tìm trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển quyển 1 và 2. Khi tìm ra rồi thì thấy không phải do đánh máy thiếu. Nguyên văn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển quyển 2, phần Thi Văn Dạy Đạo y chang như vậy. Kể ra cũng lạ!

Bài Thánh thi này quả có diệu ý cao xa mà trí phàm nghĩ chưa thông để giải. Chỉ tàm tạm, ngờ ngợ cho rằng hình như là đức Chí Tôn muốn nhắc đến sự tu hành học đạo phải luôn phấn đấu tiến lên bất kể có khó khăn gì. Trong bất cứ khó khăn nào cũng phải giữ cái tâm như như, thanh tịnh, sắc tức thị không, không tức thị sắc làm niềm vui bất tận. Đó chính là phương thức trở về quê cũ thiêng liêng. Thâm sâu, khó hiểu, vĩ đại, khó tầm....Chỉ hiểu được mỗi câu sáu chữ! Lại phải suy nghĩ, suy nghĩ và suy nghĩ....

Tiếp theo là hai lời dạy khác, cũng không ngoài ý nghĩa như bên trên, nhưng được diễn giải theo một cách cụ thể hơn.

Khuyên con ráng định rán phăng,
Con phăng trúng nhiệp bổn căn gặp Thầy,
Các con rán nhớ lời này,
Đạo Thầy gom lại con bầy lòng nhơn.5



Thiết thạch trong lòng kỳ ngươn tận,
Các con đồng tinh tấn bước đi,
Thiền môn trẻ gắng mật trì,
Tu hành gìn giữ cho y giáo điều.6



Như vậy thông qua ba lời dạy và nhắc nhở ở trên, bản thân tạm nhận ra “bài toán” của bản thân trong năm qua và năm tới: vấn đề tâm hạnh và phương châm tu học. Về tâm hạnh, năm sau phải là một cuộc đại chiến nhằm thu phục “thập tam ma” hay “thập cửu ma” và phải học về đức tính khiêm cung từ tốn! Về phương châm tu học, phải suy nghĩ về con đường chơn pháp, song tu phước huệ, để hiểu rõ lý sắc không! Còn việc về “rừng tòng” để “dựa” thì để tính sau!

Giải phận đầu năm thế là đủ. Nếu quý cao minh có cao kiến gì hơn, xin được chỉ giáo!

Bói sinh

*******************************
1. Đức Vạn Hạnh Thiền Sư, Minh Lý Thánh Hội, Mùng Tám tháng Chín, Kỷ Dậu, 18-10-1969
2. Đức Chí Tôn, Thánh Ngôn Hiệp Tuyển
3. Đức Giáo Tông Vô Vi Đại Đạo, Thánh Ngôn Hiệp Tuyển
4. Đức Chí Tôn, Thánh Ngôn Hiệp Tuyển quyển II, phần Thi Văn Dạy Đạo, bản in lần thứ ba, năm Canh Tuất 1970
5. Câu này không nhớ là “xin lộc” ở thánh sở nào mà có. Cũng không thấy ghi lời dạy của đấng Thiêng liêng nào. Nên cũng không biết xuất xứ. Chỉ có thể đoán là của đức Chí Tôn vì có xưng bằng “Thầy”.
6. Đức Diêu Trì Kim Mẫu.
Ý kiến riêng: Bài thi này nhận được ở Thánh Tịnh Tân Minh Quang vốn là một trong những nơi được xây dựng và tu hành theo Thánh ý. Nhưng mặt sau lại ghi là Đạo Viện Tân Minh Quang. Trước đây thì lại thấy ghi là Đạo viện Tân Minh. Mà cách gọi đạo viện cũng là một hiện tượng lạ so với lịch sử Cao Đài giáo kể từ thời khai đạo đến nay và lạ với cả Pháp Chánh và Tân Luật. Kể ra cũng lạ là ngay trong Thánh tịnh, vốn là trường tịnh lại có thêm đạo viện. Như vậy về quyền pháp cũng là hiện tượng kỳ đến lạ.

Friday, January 14, 2011

HÀNH ĐẠO LÀ BÌNH AN

Trong những ngày liên giao hành đạo tháng 01/2011, nhằm vào tháng Chạp năm Canh Dần, những chuyến liên giao hành đạo không còn “náo nhiệt” như những tháng trước đây. Có tổng cộng bốn dịp “xuất hành”, mà cả thảy đều trong bình an và êm thắm. Không mưa, ít bụi; nắng không gắt, gió không mạnh; khí trời có phần lạnh và phố xá có vẻ tươi tắn hơn khi hoa lá bắt đầu sự sống mới của mình. Nhịp điệu của công tác liên giao hành đạo cũng nhẹ nhàng trở lại như thể đang vào cái lúc thu liễm nội lực chuẩn bị cho sang năm. Có thể thế chăng?

Sự bình an của những chuyến liên giao hành đạo trong tháng cuối năm không chỉ nằm trên những con đường quen thuộc, không chỉ nằm trong khí trời êm ả và còn nằm ở bên trong của mỗi sinh hoạt.

Bốn chuyến đi làm thành hai nhịp. Mỗi nhịp như thế lại bao gồm một đi xa, một đi gần. Nhịp một, bao gồm thánh tịnh Đại Thanh vào ngày 05/01/2011 và Vĩnh Nguyên Tự vào ngày 06/01/2011. Nhịp hai, bao gồm thánh tịnh Thanh Liên Đàn vào ngày 11/01/2011 và thánh tịnh Ngọc Minh Đài vào ngày 12/01/2011. Nói gần thì thiệt chẳng phải quá gần, mà nói xa thì cũng thiệt quá xa. Cái khoảng cách không xa chẳng gần này cũng khiến cho chuyến đi của chúng tôi có tính an nhàn rõ ràng nếu so với những lần đi trước đó. Mọi thứ của hành trình thật gọn gàng...Rất thanh thản!




Còn nhớ cách đây nhiều năm, nhiều năm lắm rồi, thánh tịnh Đại Thanh còn rất hoang sơ và vắng vẻ. Khuôn viên nhiều cây cỏ như thay thế tín hữu mỗi ngày tứ thời kinh kệ để giữ cho nét thiền môn. Ngày trở lại sau nhiều năm dài, nay thánh tịnh đã thật sự đổi thịt thay da. Ngôi tam đài được xây dựng từ năm 2000, đến nay cũng đã mười năm. Bây giờ, sự khang trang, rạng rỡ của ngôi thánh tịnh trong khu dân cư đã hiện rõ hơn bao giờ hết. Tuy vậy, thánh tịnh vẫn giữ được nét đơn giản về hình thức. không quá cầu kỳ và sặc sở, rất hợp với tinh thần
thánh tịnh. Cầu nguyện cho tinh thần này mãi tồn tại như thế vậy! Như vậy, tính đến ngày 05/01/2011, thánh tịnh Đại Thanh đã được thành lập 77 năm, và 10 năm kể từ năm tái thiết ngôi tam đài.

Vĩnh Nguyên Tự vẫn giữ nguyên cái nét xa xưa của một ngôi chùa ba mái. Có lẽ, trong suy nghĩ của con người, nơi đây vẫn mãi là một trong những địa điểm đầu tiên của sự khai sinh ra một thực tướng của nền tân tôn giáo Cao Đài, nên cái vóc dáng của nó không thay đổi qua tháng năm. Buổi lễ có phần thiên về đạo pháp khi cả vị Chánh Hội Trưởng và bài thuyết minh giáo lý đều đề cập đến đạo pháp, công phu. Có lẽ, do buổi lễ kỷ niệm ngày đăng tiên của đức Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn nên chất đạo pháp bao trùm không gian ngôi chùa và tâm thức nhân sanh chăng?




Thánh tịnh Thanh Liên Đàn là một ngôi thánh tịnh sẽ có nhiều đổi mới. Trong sự phát triển của đô thị, đất đai được quy hoạch và xây dựng lại. Ngôi thánh tịnh sẽ phải di dời ra một nơi mới. Nghe nói đâu cũng gần địa điểm hiện tại. Nhưng có lẽ trong tương lai, cái nét bình dị, an nhiên của ngôi thánh tịnh sẽ không còn như ngày hôm nay nữa. Nét cũ kỷ của ngôi thánh tịnh không làm suy giảm tinh thần tu học của tín hữu Cao Đài. Rất ấn tượng với chúng tôi. Trong ngày lễ kỷ niệm lần này, chương trình hành buổi lễ có phần đọc Thánh giáo của đức Diêu Trì Kim Mẫu thay cho phần thuyết minh giáo lý hay học tập giáo lý như một số nơi khác. Giọng đọc và ngâm thơ của đạo huynh xxxx thật ấm và truyền cảm. Điều đó khiến chúng tôi cảm nhận được cái văn của đạo, nghĩa là cái văn chương và vẻ đẹp của việc ngâm nga thi văn dạy đạo để cảm thụ toàn bộ tình cảm, tinh thần và đức tin trong khi tiếp xúc với kinh điển Cao Đài. Và còn hơn thế nữa, mỗi đạo huynh của Ban Cai Quản là cả một kho thơ. Ai cũng tặng thơ cho quý thính giả. Khiến cho quý quan khách phát biểu cảm tưởng cũng có hứng thú thi ca! Thơ tuôn ra như suối, thơ tràn ra như sông, thơ nhập vào cuộc sống, thơ hòa trong sự tu. Thanh tao và bình lặng vô cùng!

Sáu tháng trước đây, vào ngày lễ kỷ niệm lần thứ 76 của thánh tịnh Ngọc Minh Đài, một trận hỏa hoạn đã lấy đi hoạt động của phòng khám phước thiện Đông y và phòng trù của thánh tịnh. Sáu tháng sau đó, thánh tịnh khai trương phòng khám bệnh phước thiện và phòng trù mới. Không chỉ thế, thiên phong đường cũng được cơi nới cho cao ráo và sáng sủa hơn. Cái mới cộng với ý nghĩa hoạt động của phòng khám phước thiện là công trình của tập thể bà con xung quanh thánh tịnh, của đạo hữu trong và ngoài nước không phân biệt hệ phái và tôn giáo. Công trình này được xây dựng bởi tấm lòng hảo tâm, sự tương thân liên ái, tinh thần phụng sự đạo nghĩa của nhân sinh. Cho nên, công trình này là sự thể hiện của Tình Thương, tình người và lẽ hòa ái trong nhân sinh thế sự. Buổi lễ khánh thành có sự góp mặt của các Anh Lớn Hội Thánh Cao Đài Tiên Thiên, đại diện các tôn giáo bạn: Phật giáo Hòa Hảo, Phật giáo, đình thờ đức Quan Thánh,....

Như vậy, kết thúc một niên trình liên giao hành đạo, có thể nói là tâm đã đạt đến thanh tịnh trong vận động! Các đạo sự liên giao cuối năm đã đem lại sự bình yên và hiểu biết. Một sự an bình trong đạo lý!


Tuesday, December 28, 2010

“NHƯ MUỐI BỎ BỂ”

Muối bỏ bể” là một câu thành ngữ của dân tộc Việt. Dù là một thành ngữ xa xưa nhưng cho đến hiện nay, khi mà văn chương và đối thoại vẫn còn dùng đến mà không cần phải tra bất cứ loại từ điển thành ngữ nào cũng có thể hiểu được nó. Tuy vậy, vẫn thấy một sự cần thiết để viết lại những suy nghĩ, những hiểu biết về câu thành ngữ này trong mối liên hệ với công việc hiện tại, nghiên cứu giáo lý Cao Đài. Mục đích sau cùng là giúp cho bản thân có một cái nhìn rõ ràng hơn về trọng trách của công tác nghiên cứu, đồng thời làm cụ thể hơn về con đường nghiên cứu giáo lý này.

Từ ngày Cao Đài giáo chính thức được thành lập trên đất Việt Nam cho đến nay, trải hơn 80 năm ròng rã, đã có nhiều bậc tiền nhân minh triết đã có công biên soạn, viết ra những quyển sách liên quan đến giáo lý Cao Đài, giáo lý Đại Đạo. Những quyển sách đó cũng đã được phổ biến trong đạo hữu và nhân sanh cả nước hầu làm sáng tỏ đạo lý kỳ ba cho nhân sanh được hiểu. Ngày nay, nhìn lại công nghiệp đó từ con mắt của hậu bối thật đáng ngưỡng mộ và trân trọng. Song đối với sứ mạng của Đại Đạo dường như hãy còn chưa đủ. Bởi thế đức Lý Giáo Tông Vô Vi Đại Đạo đã dạy như sau: "Này chư hiền, trước hết Bần Đạo nói về giáo lý. Đó là điểm quan trọng bậc nhất cho tiền đồ Đại Đạo. Mặc dầu mấy mươi năm qua, Cơ Quan cũng như các chi phái khác đã cố gắng phát huy biểu dương sâu rộng. Nhưng khách quan mà xét, thật là như muối bỏ bể, chưa thấm vào đâu, vì trong hàng hướng đạo có mấy ai thấu triệt và quan niệm đúng đắn. Đó là chưa kể đến những quan điểm mâu thuẫn nhau. Còn nhân sanh thì giàu nhiệt tình tin tưởng, nhưng thiếu một sự nhận thức cơ bản đúng đắn, nên gây ra hoang mang mơ hồ."

Như vậy, qua lời dạy trên, tôi tự hiểu rằng, nghiên cứu và truyền bá giáo lý là một công việc có tầm mức “quan trọng bậc nhất” so với các hoạt động tu học và hành đạo khác. Không phải đi sâu và phân tích tính quan trọng này, vì dù sao đi nữa điều mà chúng ta cần xác định lúc này là phương hướng của công tác nghiên cứu, hoạt động cơ bản nhất.

Tính từ thời điểm Cao Đài giáo ra đời đến hơn 55 năm sau đó, đức Lý đã công nhận công tác nghiên cứu giáo lý của Cơ Quan và các chi phái Cao Đài anh em đã có nhiều “cố gắng phát huy”“biểu dương sâu rộng”. Trong nhận xét này của đức Lý, chúng ta hiểu giáo lý được đề cập ở đây là phần kinh văn ngoài Thánh ngôn, Thánh giáo là lời dạy của Ơn Trên. Giáo lý, hay nghiên cứu giáo lý ở đây chính là công trình kết tập, biên soạn và khảo cứu của các vị tiền bối trong Cao Đài giáo. Tạm phân loại các công trình của tiền nhân các loại như sau1:

A. Nhóm các bài thuyết đạo

  1. Các bài thuyết đạo của đức Hộ Pháp

  2. Các bài thuyết đạo của đức Thượng Sanh Cao Hoài Sang

  3. Các rất rất nhiều bài thuyết minh giáo lý, thuyết đạo của các thánh sở Cao Đài.

B. Nhóm các sách khảo cứu giáo lý - sử đạo

  1. Chơn Lý, Nguyễn Trung Hậu, năm xuất bản 1928

  2. Đại Đạo Căn Nguyên, Nguyễn Trung Hậu (tự Thuần Đức), năm xuất bản 1930

  3. Đạo Mạch Tri Nguyên, Huệ Chương, năm xuất bản 1930

  4. Đạo Thống Chơn Truyền, Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt, năm xuất bản 1934

  5. Lịch Sử và Triết Lý của Đạo Cao Đài, Gabriel Gobron, năm xuất bản 1949

  6. Thiên Đạo, Nguyễn Trung Hậu, Phan Trường Mạnh, năm xuất bản 1954

  7. Giảng Đạo Chơn Ngôn, Thái Đến Thanh, năm xuất bản 1957

  8. Trên Đường Tấn Hóa, Tiếp Pháp Trương Văn Tràng, năm xuất bản 1963

  9. Hội Lý Xiển Chơn Luận, Nguyễn Văn Kinh, năm xuất bản [không rõ]

  10. Đại Đạo Giáo Lý và Triết Lý, Hiền tài Trần Văn Rạng, năm xuất bản 1974

  11. ...và rất nhiều quyển sách khác nữa.

C. Nhóm các bài giảng giáo lý hạnh đường: [không thể thống kê]

Tạm đưa ra những ý kiến sau để hình dung rõ bức tranh của việc nghiên cứu, triển khai giáo lý thời trước:

Nội dung của các sách vở kinh văn thời trước (1985) cũng tập trung vào các chủ điểm:

  • Sử đạo:

  • Lý luận đạo học: luận về Đạo, chơn lý,...

  • Khuyến tu

Phương pháp chủ yếu được dùng trong các sách vở kinh văn thời trước (1985)

  • Dựa vào giáo lý Tam giáo để giải thích các điểm giáo lý Cao Đài

  • Phân tích về các trọng điểm giáo lý.

Tạm xét qua công nghiệp to lớn của tiền nhân cũng đủ thấy chất “muối” mặn nồng đã có, nhất định là có. Nhưng trong hình thể to lớn đó vẫn thiếu yếu tố nào đó khiến cho nó “chẳng thấm vào đâu”, nghĩa là vẫn không đủ, có thể là so với nhu cầu học hiểu đạo lý của nhân sanh hoặc kỳ vọng của Thiêng liêng đã đặt để. Yếu tố đó là gì?

Có thể cho rằng yếu tố đó chính là chiều sâu và chiều rộng của nền giáo lý Đại Đạo. Đức Lý dạy “có mấy ai thấu triệt và quan niệm đúng đắn”. Trong đó, “thấu triệt” chính là cái hiểu đi sâu vào bên trong đạo lý, nhận thức được cái tinh túy tinh ròng của giáo lý Tam Giáo, vạn giáo; và “quan niệm đúng đắn” chính là tầm nhìn trên phương diện bao quát của chơn lý. Chính vì yếu tố này chưa được vận dụng trong quá trình xiển dương giáo lý nên giá trị của việc làm tuy là đã đúng chất thế nên lại chưa được sâu đúng mức, rộng đúng tầm. Thiết nghĩ, nếu đây là sự thật thì sự thật này nằm ở hoàn cảnh lịch sử còn ở trong giai đoạn sơ khai của tri thức con người về nền tân giáo lý thời đại mới, chứ không hoàn toàn bởi lỗi lầm chi của con người cả. Vả lại, sự thiếu vắng yếu tố sâu - rộng này không diễn ra trong cuộc khảo cứu, biên soạn sách vở kinh văn của chư vị tiền bối, mà có lẽ cũng đã diễn ra trên phương diện hành chánh đạo. Khi việc phân chia phi phái đã trở thành nỗi lo lắng về tiền đồ Đại Đạo của chư vị hướng đạo việc cố gắng bảo thủ chơn pháp bằng mọi phương pháp đã khiến cho sự đố kỵ, đối kháng giữa các chi phái càng trở nên trầm trọng. Ảnh hưởng của việc đó là sách vở, kinh văn cũng đã bị kìm giữ để rồi sự truyền bá tư tưởng bị rơi vào trong hoàn cảnh không thể đi sâu và rộng trong mọi giới nhân sinh.

Ngày nay, tri thức của con người cũng phát triển đáng kể. Khoa học nhân văn trên thế giới cũng đã phát triển rất nhiều (nếu so với tri thức của cộng đồng Cao Đài). Tư duy của con người cũng có những thay đổi theo hướng cụ thể và có cấu trúc hơn. Nói cách khác, con người trong thời đại mới sẽ sâu sắc hơn bằng cái nhìn rất khác về chân lý, và như vậy cũng rất khác đối với giáo lý. Trong khi đó, các sách vở và kinh văn của chư tiền bối đa phần dựa trên nền tảng của đức tin tự có trong thân và niềm tin của một bộ phận quần chúng. Do vậy, luận lý trong các tác phẩm thời trước có phần giản lược. Ngày nay, trong chiều hướng mới, giáo lý cần được nâng lên một cấp nữa để phù hợp với tư duy của phần đông nhân sanh. Cấp độ mới đó được đức Lý dạy như sau: “Các em cần phải nâng cao tầm mức giáo lý cho có triết học, khoa học, văn học để tăng thêm tính chất hấp dẫn và phổ biến.” “Chư thiên ân đệ muội hãy làm thế nào cho giáo lý Đạo có một căn bản lý luận vững chắc, khoa học; và khai triển sâu rộng mọi mặt; giải đáp các vấn đề then chốt của triết lý siêu hình hiện đại khoa học v.v...”. Sự nâng cấp này không phải là nâng cấp về nội dung giáo lý, mà chính xác là cải tiến về phương thức truyền tải giáo lý đến mọi ngõ ngách của nhân sinh.

Một điểm khác từ cái nhìn về chiều kích sâu - rộng của quá khứ, ta cũng có thể nhận định rằng việc truyền bá giáo lý ngày trước vì tập trung khá nhiều vào các luận lý cao siêu thuộc cõi vô hình khiến cho những vấn đề thiết thực căn bản cho nhận thức của đa số nhân sanh đã không được triển khai đúng mực. Việc này, ít nhiều cũng tạo nên hoàn cảnh thừa chất cao thâm, thiếu chất vừa tầm nhận thức của con người đương thời. Các yếu tố căn bản như nghi lễ, ý nghĩa của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Pháp Chánh Truyền, nền tổ chức Đại Đạo,....chưa được phân tích, lý luận triệt để cho tương ứng với mọi tầng lớp nhân sinh không bị giới hạn bởi tính địa phương, chi phái.

Ngày nay, cũng có nhiều phong trào nghiên cứu và truyền bá giáo lý. Cũng có phong trào vận dụng lời dạy của đức Giáo Tông Vô Vi một cách mạnh mẽ. Sự mạnh mẽ đó thể hiện ở phong cách vượt qua vượt lên trên cái thường tình để khoác vào một chiếc áo phân tích có tính cấu trúc rất chi li. Tuy nhiên, bản thân chưa cảm nhận được hai yếu tố “thấu triệt” và “quan niệm đúng đắn” được thể hiện cụ thể vì lẽ tính chất “muối bỏ biển” vẫn còn y nguyên trạng thái. Có điều không hiểu vì sao nó được đặt tên “Đại Đạo” một cách sớm đến như vậy!

Như vậy với những suy nghĩ nêu trên, có thể tạm rút ra những bài học từ thành ngữ “muối bỏ bể” của đức Lý Giáo Tông thành như sau:

  • Việc biên soạn, nghiên cứu giáo lý từ trước đủ về tư chất, nhưng chưa đủ số lượng. Các quyển sách viết ra chứng tỏ được sở học của chư tiền bối. Tuy vậy, so với đạo lý bao la, nhu cầu to lớn của nhân sinh thì vẫn chưa thỏa mãn được. Do vậy, không gì khác hơn, thế hệ tiếp nối phải có được cái tư chất, tâm thức phải thấm nhập được đạo lý tinh vi, huyền nhiệm, tri thức phải sâu rộng để tiếp tục cái chất của tiền nhân. Không ngừng ở đó, chúng ta cần phải tăng cường công suất trong việc nghiên cứu, khảo cứu giáo lý sản xuất ra nhiều công trình hơn để giải thích mọi mặt của đạo lý, đáp ứng nhiều đối tượng nhân sanh hơn.

  • Việc biên soạn, nghiên cứu giáo lý tuy nói là đủ về chất, nhưng là chất theo chiều kích cao của nó. Vẫn còn một không gian rộng lớn để tiếp tục cái chất theo chiều kích sâu và rộng nữa. Có thể phong trào nghiên cứu theo lối phân tích chi li đang làm theo cách này. Tuy nhiên, phương pháp phân tích đơn thuần đang thách thức tính toàn thể của giáo lý Cao Đài, chứ chưa nói đến giáo lý Đại Đạo.

  • Việc nghiên cứu và truyền bá giáo lý Cao Đài cần phải vượt qua biên giới của chi phái, tư tưởng địa phương cục bộ. Vì lẽ, giáo lý Cao Đài là một cấu trúc hoàn chỉnh dù xuất phát từ một hệ phái nào đi nữa. Hệ thống cấu trúc của giáo lý Cao Đài cần được xác định trước hết,vì đó là nền tảng cho sự quy hiệp tinh thần của những dị biệt, phân chia của quá khứ. Từ đó, tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh của giáo lý Cao Đài.

  • Khi đã có một hiện tượng, một thực thể giáo lý Cao Đài cụ thể, giáo lý Đại Đạo là bước tiếp theo để dung hợp mọi dị biệt do văn hóa, tư tưởng, niềm tin. Theo dự phóng của quan điểm cá nhân, giáo lý Đại Đạo là một hệ thống các quan điểm giáo lý của Tam giáo đạo. Mà ngay cả xác định hệ thống Tam giáo đạo vẫn còn là một quan điểm vừa có, vừa không.

  • Trên nguyên tắc kế thừa và phát triển thì “muối bỏ biển” lại càng thấy rõ ràng hơn. Sau một thế hệ, một loạt công trình được công bố, truyền bá thì mọi việc ngưng đọng lại đó. Mỗi một thế hệ lại có cách đi riêng và gần như không được xây dựng, kế thừa từ các quan điểm, công trình trước đó. Nếu có chỉ là sự tạm mượn mà thôi. Hoàn toàn không có nhận xét, đánh giá các biên soạn, khảo cứu trước đó. Nguy hiểm hơn hết là thế hệ sau lại có thể diễn dịch từ muối bỏ bể thành ra chưa đạt giá trị đích thực.

  • Cuối cùng, các ý tưởng dù lớn hay nhỏ, dù thành văn hay bất thành văn cho rằng sách vở kinh văn từ trước vì gắn liền với thành ngữ “muối bỏ bể” này mà trở thành ra không còn ý nghĩa nữa đối với hậu học về sau là không hợp lý. Để nó tồn tại vì lý do phát triển chơn pháp nhất thời là bảo tồn một biến dị của di truyền trong thánh thể của chân lý.


Thanh Long

11/2010


1Đối với các công trình nghiên cứu, khảo cứu của CQ.PTGLĐĐ từ trước đến năm 1985 không thể thống kê vì không có nguồn thông tin.

Monday, December 27, 2010

MƯA ĐẠO


Nếu lần trước chuyến đi liên giao hành đạo được xem là một đợt “hấp thụ bụi” thật dữ tợn1, thì chuyến đi về Tiền Giang ngày 14/12/2010 vừa qua có thể xem là chuyến đi “thấm nhập” được ơn phước qua những cơn mưa. Giữa tháng 12, trời bắt đầu những cơn lành lạnh đây đó, thì bất chợt lại có tin áp thấp tràn về. Ảnh hưởng quả là rõ đến Sài Gòn và các tỉnh lân cận. Mưa nhiều ngay cả trong tiết mùa Noel! Bầu trời không tươi tắn, dù những gương mặt quen thuộc trên mọi nẽo đường rất rạng rỡ. Phải nói là tươi sáng hơn khi huynh Chí Thật “rủ” vào “quán mối” để điểm tâm bằng bốn tô hủ tíu mì và bánh mì ngọt do đạo tỷ Bạch Cúc đã cẩn trọng chuẩn bị trước đó. Nắng sáng đã đến giờ mà lại lười không ra, nhưng không sao, đã có bốn bộ đồ trắng đủ “sáng chói” vi vút trên con đường dài dẫn đến Thánh tịnh Nguyệt Thanh Quang tham dự buổi lể đón mừng tư cách pháp nhân tổ chức tôn giáo.

Dù đã hỏi han, và chuẩn bị khá kỹ, chuyến đi vẫn là sự dò dẫm từng nẽo đường để có thể đến được Thánh tịnh. Thay vì đi theo đường trong bản đồ, chúng tôi lại đi theo....kinh nghiệm của lần trước. Điều đó khiến chuyến đi có vẻ dài hơn như nó có thể là! Không sao, lần đầu nào mà chẳng phải thế...Nhưng e ra đã và sẽ có khá nhiều lần đầu như thế này. Khi đoàn chúng tôi đã ở đâu đó ở Tiền Giang thì trời bắt đầu đổ mưa. Không lớn, nhưng cũng đủ ép chúng tôi phải mặc áo mưa. Nhất là, không biết còn phải đi bao xa nữa thì đến đúng cái nơi cần đến.

Xe cứ chạy, mưa cứ rơi trên những đoạn đường ngoằn nghèo, quẹo đây, quẹo đó....Mãi hơn hai giờ đồng hồ chúng tôi mới có tin vui đầu tiên của chuyến đi...Sắp đến rồi! Huynh Chí Thật vẫn rất điềm nhiên báo tin. Chẳng là huynh vừa mới dừng lại đổ thêm xăng cho con tuấn mã sắt cũng là lúc gặp được người bán xăng...đồng đạo và là đạo hữu của Nguyệt Thanh Quang luôn. Huynh bán xăng chỉ cho con đường đến Thánh tịnh nghe có vẻ gần lắm...tới cầu Tân Hòa quẹo phải liền sẽ thấy cờ đạo treo! Ồ, nhanh đến thế là cùng. Không ngờ đến mà không hay! Đi theo sự hướng dẫn của huynh hơn cả tiếng mà cờ đạo vẫn bặt vô sắc tướng! Hỏi han người dân trên đường thì quý vị rất vui vẻ hướng dẫn bằng một câu rất quen cứ đi thẳng theo lộ này đến hết đường.Ui mèn ơi....bao giờ cho đến hết đường. Không bận tâm vì chuyện gió mưa, hay xa xôi, không bận tâm mấy bộ đồ trắng đang ngã sang màu đen của đất, chúng tôi vẫn nhứt tâm...đi tiếp. Đường quê đã tráng nhựa, nhưng nhiều đoạn vẫn còn...sình. Mà sình thì thích bám. Mà đã bám thì bám được vào đâu cứ bám thôi. Thế nên mấy cái ống quần chuyển màu xám hết trọi.

Mưa đã ngớt, cảnh vật hai bên thật đẹp. Nắng đã nhẹ lên từ lúc nào mà chẳng hay. Ruộng lúa vàng ươm, mướt rượt. Vườn trái thanh long cơ man là nhiều trên suốt đoạn đường đi. Sau này, chúng tôi nhận ra càng nhiều vườn thanh long, là lúc càng gần Thánh tịnh. Khi chúng tôi gần như ở cuối đường thì một chiếc bản vàng be bé xinh xinh hiện ra trước mắt với hình ảnh lá cờ đạo nho nhỏ nhưng đủ thu hút những tâm hồn đang hớt hãi tìm đường đến nơi thanh tịnh! Dòng chữ xanh xanh ghi trên đó không lớn lắm mà sao dễ thương đến lạ kỳ: đường đến Thánh tịnh Nguyện Thanh Quang, còn 1000m! Hay quá, không phải là 1000km! Không chờ thêm bất cứ thông tin nào, chúng tôi lao vun vút vào con đường nhỏ đó với tốc độ khoảng 40km/h. Toàn là vườn trái thanh long hai bên vừa chào đón vừa mở lối cho chúng tôi đến nơi! Đi thêm hồi nữa, lại thấy một chiếc bảng y chang hồi nãy dễ thương quá sức ở trước mặt ...còn 800m! Tám trăm à? Không thành vấn đề...chúng tôi tiếp tục đi vào đoạn đường đủ cho một chiếc xe và hai người trên nó di chuyển rất từ tốn...Lần này thì đúng là cờ đạo dẫn lối, còn vườn trái thanh long hai bên thì đảm bảo chỉ có một đường thẳng mà đi, chớ đừng hòng quẹo hay ráng lách đi hàng hai! Rút cuộc, trước mắt chúng tôi là một nhóm người áo trắng thân quen....Đến rồi! Lòng mừng khấp khởi! Sau cùng cũng thấy được nơi cần đến.

Chúng tôi gặp người đồng đạo, vừa chào hỏi, vừa di chuyển vào chổ gửi xe. Đảnh lể đức Chí Tôn xong, nhưng lể vẫn chưa tiến hành. Ngoài trời mây xám bao vây khung trời cao. Nhưng không làm giảm mức náo nhiệt của màu sắc ngôi Thánh tịnh và sự tỏa sáng của những chiếc áo dài trắng khắp nơi. Vẫn theo một trình tự thông thường, buổi lễ bắt đầu và kết thúc trong viên mãn đầy đủ ý nghĩa với dự tham dự của rất đông đạo hữu địa phương, các thánh thất, thánh tịnh lân cận và các cấp chính quyền sở tại, đại diện các cấp. Không cần phải nói thêm tên của một phái đoàn có liên quan đến bài viết này thì mọi người cũng có thể hình dung ra.

Thánh tịnh Nguyệt Thanh Quang trước đây trực thuộc Hội Thánh Cao Đài Thống Nhất. Hiện nay được cấp pháp nhân tôn giáo hoạt động độc lập. Được xây dựng từ khoảng năm 1938, trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử đến nay Thánh tịnh vẫn hành đạo trong tinh thần Cao Đài. Điều đáng chú ý là sự lưu tâm học hỏi giáo lý của quý chức sắc và đạo hữu sở tại. Hằng tháng đều có mời thuyết minh giáo lý. Trong đó, Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý cũng tham gia hổ trợ công quả quý báu này đối với Thánh tịnh.

Trước khi ra về, theo thông lệ rất Cao Đài chúng tôi dự tiệc chay thân mật. Sau tiệc chay, là cảnh tay bắt tay, miệng cười thiệt tươi, đương nhiên là tươi hơn rất nhiều so với trước đó, để chào tạm biệt những người anh em đồng đạo và hẹn ngày gặp lại.

Cũng như lần trước, lần đi về này chúng tôi cũng được hướng dẫn đi con đường nhanh nhất, trơn tru nhất để về nhà. Nhưng hình như chúng tôi đang học bài học về thỉ chung hay sao ấy. Lúc đi gặp mưa thì về cũng phải có mưa mới xứng cặp đối đãi đi – về. Cơn mưa đường về rất lớn, nên huynh Chí Thật vì sự an toàn đã buộc phải dừng lại quán nước ven đường để vừa tránh mưa to, vừa lo lấy thêm sức để lát chạy về cho lẹ. Lần này, thì chúng tôi không để tâm trạng đến sình bùn trên quần áo nữa. Mà chắc cũng chẳng còn chổ để bám thêm đâu mà nghỉ ngợi cho cực. Cứ thế mới là hành đạo! Ngồi nghỉ hồi lâu, xem chừng con mưa đang tạm nghỉ mệt, mà chúng tôi thì cũng thêm sức, nên quyết định tức tốc lên xe vượt nước ngập do mưa phi thẳng về nhà.

Có lẽ lần trước hành đạo chung với bụi, nên đã làm động điển mà Ơn Trên thương tình ban bố 3 trận mưa để làm cho chuyến đi lần này bớt bụi? Không biết nói sao, nhưng kỳ thực lần nay không dính bụi quá nhiều ngoại trừ....sình thì dính nhiều lắm! Dẫu sao cũng thấy rất vui trong lòng khi cảm thấy hình như tâm mình đã gọi được sự quan tâm của Ơn Trên!

Trúng cơn mưa khi mà sức chưa hồi phục hẳn, nên lăn ra ngủ li bì, bí tỉ. Cầu mong quý huynh tỷ về tới CQ, vẫn khỏe để chuẩn bị cho tuần sau...đi tiếp.


Về Tiền Giang, 14/12/2010

Thanh Long

1Xem bài viết Bụi Đạo.